6.
Khi những ngọn roi quất xuống da thịt, ta nghiến chặt răng, không hé nửa lời.
Trong lòng chỉ có một ý nghĩ duy nhất:
Năm xưa, liệu mẫu thân có từng trải qua những thời khắc như thế này không?
Những người phụ nữ mà ta từng ghi chép lại, liệu có từng phải chịu đựng sự tuyệt vọng tương tự?
Vết thương mưng mủ, sốt cao không hạ.
Ta tưởng rằng mình sẽ c h í c ở nơi đây.
Trong cơn mê sảng, ta dường như nhìn thấy mẫu thân đang đứng trên đỉnh núi xa xăm vẫy tay gọi ta.
Nhìn thấy vô số khuôn mặt phụ nữ mờ ảo hiện ra rồi lại tan biến trong bóng tối.
Ngay lúc ta sắp gục ngã hoàn toàn, thì một bước ngoặt lại xuất hiện theo cách chẳng ai ngờ tới.
Quan viên thẩm vấn ta đã được thay bằng người khác.
Vị Đề hình quan mới nhậm chức tuổi đời còn trẻ, khuôn mặt lạnh lùng kiên nghị.
Hắn cẩn thận lật giở mấy trang bản thảo cháy dở, lại đ á n h giá ta hồi lâu.
Rồi hỏi một câu kỳ lạ:
"Chuyện cũ của Xích Vũ doanh, xưng rằng họ giỏi dùng nỏ trận, xuất thần nhập hóa, sử liệu lấy cớ vào đâu?"
Ta sững sờ.
Đây là đoạn mà ta viết dựa trên lời kể của vài lão binh, kết hợp với những ghi chép lẻ tẻ trong dã sử, cực kỳ ít người biết đến.
Ta thành thực trả lời, là do đi tìm kiếm trong dân gian mà có được.
Hắn im lặng một lát, xua tay ra hiệu cho ngục tốt lui xuống, rồi cất giọng trầm thấp:
"Tần Diễm là tiên tổ của ta.”
“Chính sử ghi chép lại sai lầm rất nhiều.”
“Đoạn mà cô viết, trùng khớp đến bảy phần với những ghi chép bí truyền của gia tộc ta."
Hắn nhìn ta, "Cô không giống kẻ cố ý phỉ báng. Cuốn sách này... rốt cuộc là được viết ra vì mục đích gì?"
Ta không biết lấy đâu ra dũng khí, nhìn thẳng vào mắt hắn, khàn giọng đáp:
"Là để ghi nhớ, ghi nhớ những con người và những sự việc không đáng bị lãng quên."
Hắn lại im lặng hồi lâu, cuối cùng nói:
"Vụ án của cô, đã có người lo lót rồi.”
“Tội c h í c có thể miễn, nhưng tội sống khó tha.”
“Lưu đày ba ngàn dặm, đày đến Điền Nam."
Ta không biết "có người" đó là ai.
Là Tô nương tử sao?
Là người có tên "Tranh" đầy bí ẩn kia sao?
Hay lại là những thiện duyên mà mẫu thân ta đã gieo mầm năm xưa mà ta không hề hay biết?
Ngày rời khỏi Tô Châu, trời lất phất mưa bay.
Ta đeo gông cùm nặng trịch, bước đi trên con đường quan đạo lầy lội.
Rặng liễu ven đường đã nhú những chồi non tơ, lại một mùa xuân nữa đến.
Ngoảnh nhìn lại con đường đã qua, kinh thành đã xa xăm, cố viên giờ chỉ còn như một giấc mộng.
Đường đi phía trước mịt mờ, vùng đất đầy lam sơn chướng khí Điền Nam, không biết viễn cảnh nào đang chờ đợi ta.
Nhưng thật kỳ lạ, trong lòng ta lại không có quá nhiều sự sợ hãi.
Trải qua tai ương chốn ngục tù, bước qua ranh giới giữa sự sống và cái c h í c, một vài thứ ngược lại đã lắng đọng, trở nên rõ ràng và rắn rỏi hơn bao giờ hết.
Mẫu thân đã dùng bước chân để đo lường núi sông biển cả, ta dùng giấy mực để vớt vát lại những dòng chảy ngầm.
Chúng ta đều lựa chọn con đường ít người đi, con đường đầy rẫy chông gai và bụi rậm ấy.
Bà chưa từng lùi bước, ta cũng không thể lùi bước.
Con đường lưu đày đằng đẵng và vô vàn cực nhọc.
Những phạm nhân đi cùng hết người này đến người khác ngã gục.
Ta dựa vào một chút dũng khí, cùng những kiến thức về thảo dược được ghi chép lác đác trong sổ tay của mẫu thân, cố gắng gượng chống đỡ.
Khi đến một thị trấn biên viễn ở Điền Nam, ta đã chỉ còn là một bộ x ư ơ n g khô rệu rã.
Tên tiểu lại của Thổ ty phụ trách tiếp nhận liếc nhìn giấy tờ, cau mày.
Tiện tay phân phó ta làm nô tì cho một gia đình làm nghề nung gốm.
Chủ nhân là một lão thợ gốm ít nói, họ Nham.
Ông ấy có một cô con gái tên là A Nguyệt, nhỏ hơn ta vài tuổi, đôi mắt sáng lấp lánh, rất tò mò về ta.
Nơi đây trời cao hoàng đế xa, luật lệ lỏng lẻo, ta bất ngờ lại có được một chút tự do nhất định.
Ta giúp nhà họ Nham làm việc vặt, gánh nước, đào đất sét, và học những công việc nặn gốm thô sơ.
Những lúc rảnh rỗi, ta ngồi trước túp lều tre lụp xụp.
Nhìn những dãy núi xanh rì và mây mù lượn lờ đằng xa, nhớ lại những miêu tả về vùng Điền Nam trong du ký của mẫu thân.
Sức khỏe dần dần hồi phục.
Sự thôi thúc muốn viết, lại một lần nữa cuộn trào như dòng chảy ngầm dưới lòng đất.
Không có giấy bút, ta bèn học thuộc lòng trong tâm trí.
Một lần, rồi lại một lần.
Đảm bảo rằng mọi chi tiết đều được khắc sâu vào trong x ư ơ n g t ủ y.
A Nguyệt không biết chữ, nhưng lại rất thích nghe kể chuyện.
Đêm đến, ngồi quây quần bên bếp lửa, ta lại kể cho muội ấy nghe những câu chuyện:
Kể về một người phụ nữ làm thế nào để thông qua việc quan sát tinh tượng và thực vật để xác định phương hướng.
Kể về một kiểu dệt đặc biệt làm thế nào để tấm vải bền chắc hơn.
Kể về một người phụ nữ có y thuật cao siêu làm thế nào để hái thuốc cứu người trong rừng sâu núi thẳm...
A Nguyệt nghe đến mê mẩn, ánh mắt phản chiếu ánh lửa bập bùng:
"A tỷ, những người phụ nữ này giỏi quá. Tiếc là chẳng ai biết tên của họ cả."
"Đúng vậy,"
Ta nhìn ngọn lửa đang nhảy múa, khẽ nói: "Cho nên, phải có người ghi nhớ."
Nham lão bối đôi khi cũng lặng lẽ ngồi nghe, rít tẩu thuốc lá sợi của ông, chẳng nói chẳng rằng.
Bản chuyển ngữ của Nguyện Người Như Sao Như Trăng được đăng duy nhất tại Meo Mập . Nếu bạn đang đọc tại nơi khác , thì chính xác là đã bị trang khác ăn cắp rồi đăng lại . Đứa nào ăn cắp bản chuyển ngữ này chính là súc vật
Cho đến một ngày, ông đưa cho ta mấy tấm đất sét mỏng chuyên dùng để nung gốm, cùng với một con dao khắc.
"Khắc xuống đi," Giọng nói tiếng Hán của ông pha lẫn âm sắc địa phương đặc sệt, nghe khàn khàn.
"Còn chắc chắn hơn là nhớ trong đầu. Chỗ này ẩm ướt lắm, giấy không giữ được đâu."
"Tấm bùn này nung qua lửa rồi, có thể giữ được rất lâu."
Ta chấn động nhìn ông.
Ông phả ra một ngụm khói, phóng tầm mắt về phía ngọn núi xa xăm:
"Mẫu thân của ta, cũng biết kể chuyện.”
“Toàn kể về những người đàn bà trong núi, làm thế nào để tìm thuốc, làm thế nào để đoán biết thời tiết, làm thế nào để sống sót dưới nanh vuốt của dã thú.”
“Bà ấy nói nếu không ghi chép lại, sau này sẽ chẳng còn ai biết nữa."
Ông khựng lại một lát.
"Bà ấy chưa kịp khắc, cô khắc đi."
Ta nhận lấy tấm đất sét và dao khắc, những đầu ngón tay khẽ run rẩy.
Đây không phải là loại giấy bút tinh xảo, đây là đất sét và lửa.
Thô ráp, nhưng lại mang chất liệu rắn chắc tựa bàn thạch.
Ta bắt đầu khắc chữ lên những tấm đất sét.
Bắt đầu từ câu chuyện của mẫu thân, khắc lại việc bà đã bước ra khỏi chốn khuê phòng sâu thẳm như thế nào, đã quan sát và ghi chép ra sao, đã giúp đỡ những người phụ nữ ấy như thế nào.
Sau đó, là A Nhược, là Chu nương tử, là Bùi thị nữ, là vị nữ toán học gia nọ, là nữ tướng quân Tần Diễm.
Là tất cả những cái tên và sự tích mà ta có thể nhớ lại, có thể tìm kiếm được.
Mũi dao khắc vạch ra những vết hằn sâu hoắm trên tấm đất sét, phát ra những tiếng sột soạt, tựa như lời thì thầm của năm tháng.
A Nguyệt giúp ta phơi khô những tấm đất sét đã khắc xong trong bóng râm, rồi đưa vào lò, nung cùng với đồ gốm.
Ngọn lửa bùng lên, nung cháy những cái tên và những câu chuyện ấy, hòa vào trong lớp đất sét cứng cáp.
Hết tấm này đến tấm khác.
Những tấm đất sét thô ráp cứ thế chất cao lên trong góc nhà.
Ta không biết những tấm đất sét này cuối cùng rồi sẽ đi về đâu, liệu có thể thực sự tồn tại được lâu dài hay không.
Nhưng ta biết, ta đang làm một việc mà mẫu thân mong muốn ta làm, một việc mà vô số những người phụ nữ trầm lặng mong muốn có người đứng ra làm.
Để sự "tồn tại" được ghi nhớ.
Cho dù đó là bằng một cách thức nguyên thủy nhất, khắc trên thứ bùn đất thấp kém nhất.
Trong ánh lửa bập bùng, ta dường như nhìn thấy mẫu thân, nhìn thấy vô số những bóng hình của bà, đang mỉm cười với ta.
Dòng chảy ngầm dẫu không một tiếng động, nhưng vẫn đang cuồn cuộn chảy về phía trước.